11:26 ICT Thứ sáu, 31/10/2014

Menu

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 6


Hôm nayHôm nay : 171

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 29885

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 510987

Trang nhất » Tin Tức » Công tác chuyên môn

Chuyên đề thi GVG cấp Huyện môn GDCD

Thứ sáu - 23/11/2012 08:58
                              
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
 
 
ĐỀ TÀI:
 
 PHƯƠNG PHÁP VẬN DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ, THƠ CA TRONG GIẢNG DẠY  MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở CÁC LỚP 6,7
 
I/ PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lí do chọn đề tài:
   Ca dao, tục ngữ, thơ rất gần gũi và gắn bó với con người Việt Nam. Ngay từ khi mới lọt lòng ca dao, tục ngữ, thơ ca đã đến với tuổi ấu thơ qua lời ru của mẹ, lớn lên ca dao, tục ngữ, thơ ca là người thầy răn dạy con người đạo lý tốt đẹp của dân tộc. Ca dao, tục ngữ, thơ ca là ngôn từ được chọn lọc chính xác và được gọt giũa qua nhiều thời gian. Qua truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc.
  Chính vì lẽ đó nên trong quá trình giảng dạy môn GDCD theo sách giáo khoa ở các lớp 6, 7. Tôi đã mạnh dạn sử dụng vào trong tiết dạy, để làm gần gũi hơn ca dao, tục ngữ, thơ ca Việt Nam với các em học sinh, học sinh nhanh chóng nhận biết được các khái niệm của bài và ý nghĩa giáo dục của ca dao tục ngữ, thơ ca qua bài dạy. Bên cạnh đó học sinh sẽ tiếp xúc bài học hứng thú hơn, giờ học sinh động hơn.
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích: Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo tự học, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho học sinh.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
   - Học sinh học môn GDCD  lớp 6, lớp 7 trường THCS Kim Xá.
 4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
 Thông qua đối tượng nghiên cứu chúng ta rút ra những giải pháp cần thiết trong quá trình giảng dạy môn GDCD để giúp học sinh lĩnh hội tri thức tốt hơn, vận dụng điều đã học vào thực tế.
5. Phương pháp nghiên cứu:
 Để nghiên cứu đề tài này bản thân tôi đã sử dụng những biện pháp sau:
- Phương pháp điều tra qua những tiết dự giờ của đồng nghiệp cùng bộ môn, điều tra mức tiếp thu của học sinh và việc đánh giá kết quả của từng tiết dạy.
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu qua tham khảo sách báo.
 
- Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực sáng tạo chủ động của học sinh thông qua những câu hỏi nêu vấn đề.
  - Phương pháp thực hành thực nghiệm qua những tiết dạy khối 6,7.Bản thân tôi đã thực nghiệm và rút ra kinh nghiệm.       
6. Nội dung đề tài nghiên cứu: 
“ Phương pháp vận dụng ca dao ,tục ngữ ,thơ trong giảng dạy môn GDCD lớp 6,7”
 II.NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: 
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN  CỨU
  1. Cơ sở pháp lý:
 
          Như chúng ta đã biết ngành giáo dục đã trải qua rất nhiều cuộc cải cách giáo dục và đã phấn đấu thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới .Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “ giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
    Đó là cơ sở lí do tôi chọn đề tài này
2. Cơ sở lý luận:
      Phương pháp vận dụng ca dao tục ngữ, thơ ca trong giảng dạy nhằm giúp cho học sinh tham gia chủ động trong quá trình  học tập. Học sinh tự biết mình phải noi theo những tấm gương nào, người anh hùng nào, làm điều tốt như thế nào, yêu thương con người cần phải làm gì… và có thể nói những câu ca dao, thơ ca, tục ngữ đã tác động đến tâm lí, hành vi của các em và từ đó hướng các em đi đúng con đường mà xã hội đang cần và mong muốn.
 3. Cơ sở thực tiễn:
Môn GDCD phải hoàn thành nhiệm vụ cơ bản là tổ chức giáo dục học sinh hiểu được những chuẩn mực đạo đực và pháp luật cơ bản, phổ thông thiết thực phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS.
Hình thành cho các em tình cảm, niềm tin đạo đức pháp luật và hành vi thói quen đạo đức và ý thức pháp luật của mỗi học sinh.
Mục tiêu trên đây có tầm quan trọng to lớn vì:
  Hầu hết học sinh THCS còn nhỏ tuổi. Việc hiểu các khái niệm còn trực tiếp, cảm tính cho nên đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp giáo dục thích hợp, để học sinh cảm nhận và tự nâng lên thành nhận thức và ý thức của bản thân.
 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI   
1) Khái quát phạm vi nghiên cứu:
         Đây là đề tài đề cập đến sự vận dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca trong giảng dạy, tức là làm thế nào vận dụng những câu thơ,  câu ca dao, câu tục ngữ, thiết thực để học sinh khắc sâu kiến thức, giờ dạy đạt hiệu quả mong muốn.
2) Thực trạng của đề tài nghiên cứu :
    Đa số học sinh có sự vận dụng tốt, biết vâng lời bố mẹ và thầy cô. Nhưng còn nhiều em học sinh cho rằng đây là môn phụ nên thường ít hứng thú trong học tập. Ở lứa tuổi các em tư duy còn rất cụ thể, nên khi truyền thụ kiến thức cho chúng, ta cần vận dụng tất cả các phương pháp trong dạy học. Đặc biệt là phương pháp vận dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca. Khi vận dụng những câu ca dao, tục ngữ học sinh say mê nghiên cứu những ngôn ngữ trong ca dao, tục ngữ, thơ ca trong sáng tinh tuý đã được mài giũa qua thời gian. Hơn thế nữa ca dao, tục ngữ, thơ ca vừa có sức gần gũi vừa có sức thuyết phục kỳ diệu đối với học sinh đến với bài dạy.
3) Nguyên nhân của thực trạng:
    Trong quá trình dạy học, có một số giáo viên quá đặt nặng kiến thức phần kênh chữ, phần kênh hình nên xem nhẹ, sơ lược phần ca dao, tục ngữ, thơ ca. Hiện nay, với sự bùng nổ thông tin nên ngoài kênh hình có trong SGK thì tranh ảnh, phim tư liệu phục vụ đắc lực cho việc dạy học lịch sử rất nhiều. Do đó  bỏ qua những câu thơ, ca dao, câu tục ngữ để rút ra kiến thức mới. Hoặc có khai thác nhưng ít, nên kết quả không cao.
- Ý thức học tập của học sinh chưa cao còn xem nhẹ môn GDCD.
- Đồ dùng dạy học chưa đầy đủ .
- Kĩ năng sống của các em còn hạn chế nên chưa biết vận dụng những điều đã học vào cuộc sống.
 

4) Kết quả điều tra trước khi áp dụng đề tài:
Khối lớp 6 Tổng số học sinh Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
6A1 39 16 41.0 11 28.2 11 28.2 1 2.6 0  
6A2  
39
 12 30.7 9 23.1   15 38.5 3 7.7 0  
6A3  
39
 6 15.4 13 33.3 16  41.0 4 10.3 0  
Cộng 117 34 29.1 33 28.2 42  35.9 8 6.8 0  
 
CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP ,GIẢI PHÁP CHỦ YẾU  
1.Cơ sở đề xuất các giải pháp :
  Thực tế cho thấy qua giảng dạy một số bài GDCD lớp 6,7 tôi thấy các em chưa hiểu sâu các khái niệm, biểu hiện và các biện pháp rèn luyện. Có nhiều em chưa phân biệt được đâu là ý nghĩa, đâu là biện pháp, các em chưa thực sự hiểu rõ qua thực tế cuộc sống các em đã có đức tính đó hay chưa? Nếu chưa có thì phải làm thế nào? Qua khảo sát kết quả học tập của học sinh tôi thấy các em chỉ mới hiểu được 65% yêu cầu bài học đề ra.      
2.Các  giải pháp chủ yếu:
 *  Giáo viên lập kế hoạch dạy học, chuẩn bị toàn bộ.
  -Thiết kế bài dạy một cách cụ thể, hợp lí, kết hợp các phương tiện, thiết bị dạy học với các phương pháp dạy học .
   - Đảm bảo tính hệ thống, liên hệ với thực tiễn.
   - Đặt ra các tình huống học tập vừa sức với học sinh.
   - Hướng dẫn học sinh sưu tầm chọn lọc thơ ca, ca dao, tục ngữ theo chủ đề.
*Học sinh:
 - Phải có SGK và các tài liệu tham khảo.
 - Biết cách sưu tầm, chọn lựa, sắp xếp thơ ca, ca dao, tục ngữ theo chủ đề, theo chuẩn mực đạo đức phù hợp.
- Sưu tầm ca dao,tục ngữ từ người thân, nười lớn tuổi trong gia đình, tạp chí, sách báo các phương tiện truyền thông đại chúng.
2.1. Sử dụng thơ ca, tục ngữ để giới thiệu bài mới:
    Để có một sự khởi đầu tốt đẹp, giáo viên cần phải chú ý hoạt động vào bài sao cho hấp dẫn, tạo hướng thú ngay từ đầu để kích thích sự tò mò ham hiểu biết của học sinh,một số ví dụ mà tôi đã làm. Trong chủ đề quan hệ với công việc ở lớp 6, bài siêng năng kiên trì (tiết chương trình 2 và 3), tôi giới thiệu tục ngữ Việt Nam có câu “Có công mài sắt có ngày nên kim” ý nghĩa của câu về nghĩa đen: sắt là nguyên liệu chưa sử dụng được, phải qua quá trình mài cho bén, sử dụng được, phải qua quá trình mài bén cho nhọn mới thành cây kim. Cây kim có giá trị dùng để may, vá, thêu. Nghĩa bóng: khuyên con người nên chăm chỉ làm việc, miệt mài, thường xuyên, quyết tâm cho đến cùng để tạo ra những giá trị sử dụng trong cuộc sống. Câu tục ngữ đề cao đức tính siêng năng, kiên trì. Vậy siêng năng, kiên trì là như thế nào, ý nghĩa của siêng năng, kiên trì trong cuộc sống, học sinh cần rèn luyện đức tính này như thế nào? Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu bài 2.
*Vận dụng thơ ca:
    Trong chủ đề quan hệ với người khác, ở lớp 7 tiết 5 bài 5 :
    Yêu thương con người. Nhà thơ Tố Hữu có hai câu thơ rất hay :
                  “ Có gì đẹp trên đời như thế
                   Người với  người sống để yêu nhau’’.
    Rõ ràng con người sống phải biết yêu thương đồng loại của mình. Không ai có thể sống mà không có tình yêu thương, yêu thương là lẽ sống, là sức mạnh giúp con người vượt qua khó khăn, gian khổ. Vậy thế nào là yêu thương con người, làm thế nào để thể hiện lòng yêu thương  với mọi người xung quanh, lòng yêu thương có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống  chúng ta cùng bước vào bài học này.
*Vận dụng ca dao :
   Trong chủ đề quan hệ với người khác ở lớp 6, tiết 5 bài 4: Lễ độ.
   Trong giao tiếp hằng ngày, để gây thiện cảm với người đối diện, chúng ta phải có cư sử lịch sự, hành vi trang nhã, lời nói tế nhị, đúng mực vậy nên ông cha ta đã dạy:
                                    “Lời nói chẳng mất tiền mua
                                      Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
   Nói cho vừa lòng người khác là biểu hiện sự tôn trọng, quan tâm, là người có văn hóa, có đạo đức. Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu một chuẩn mực đạo đức rất cần thiết đó là tính lễ độ.
  Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam rất phong phú về nội dung và cách diễn đạt. Đặt biệt là mảng câu nói về tính cách con người, kể cả những câu mang ý nghĩa tích cực khuyên răn, giáo dục hay phê phán thói hư, tật xấu ….Giáo viên đều có thể vận dụng vào mở đầu bài học sao cho phù hợp.
2.2. Sử dụng thơ ca, tục ngữ trong hoạt động khai thác kiến thức mới:
   Trong dạy học kiến thức mới, giáo viên phải sáng tạo trong phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác của học sinh. Chú trọng rèn luyện phương pháp tư duy, tạo niềm tin sự hứng khởi, thái độ tự tin trong học tập. Giờ học sẽ trở nên sôi nổi, sinh động hơn nếu giáo viên biết khai thác, sử dụng thơ ca, ca dao, tục ngữ vào đúng chỗ hợp lí. Giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho cá nhân hoặc kết hợp việc làm theo nhóm. Học sinh thảo luận, chọn lựa sau đó phát biểu ý kiến của mình để làm sâu sắc nội dung bài học. Dưới đây là một số vận dụng mà tôi đã làm sáng tỏ, có hiệu quả.
* Vận dụng tục ngữ: Trong chủ đề quan hệ với người khác ở lớp 6 bài: Lễ độ tiết 5 để hiểu được ý nghĩa của việc cư sử lễ độ với mọi người, giáo viên yêu cầu:
Tìm một số câu ca dao, tục ngữ nói về lễ độ, lễ phép .
  Học sinh trả lời : - Kính trên nhường dưới.
                              - Yêu trẻ trẻ đến nhà …
                                Kính già, già để tuổi cho.
  Giáo viên chọn ra câu : Tiên học lễ, hậu học văn.
  Hỏi: Em hiểu câu tục ngữ này là như thế nào ?
  Học sinh trả lời theo suy nghĩ của mình.
  Giáo viên giải thích mỗi người khi mới ra đời phải đều phải học những bài học làm người: đó là học đạo đức, lễ nghĩa, phép tắc, sau đó mới học văn hóa (kết hợp câu ca dao, tục ngữ trên) làm cho mối quan hệ giữa mọi người sẽ trở nên tốt đẹp, xã hội văn minh tiến bộ .
*Tiết 7 bài 6: Biết ơn.
 -  Một trong những nền tảng đạo đức của con người là lòng biết ơn. Biết ơn là biểu hiện sự trân trọng quá khứ, nét đẹp trong truyền thống gia đình, tổ tiên, làng xóm, dân tộc. Giáo viên đặt yêu cầu: Tìm những câu ca, tục ngữ, thơ ca, nói về lòng biết ơn?
 -  Học sinh tìm và nêu ra tùy ý của các em .
 -  Giáo viên lựa chọn sắp xếp, bổ sung theo từng biểu hiện của lòng biết ơn
+ Biết ơn người có công với đất nước :
                                   - Uống nước nhớ nguồn.  (thành ngữ )
                                  -  Đền ơn đáp nghĩa.       (thành ngữ )
+ Biết ơn người đã giúp đỡ mình :
Ăn quả nhớ người  trồng cây
              Ăn khoai nhớ người cho dây mà trồng
                Ăn gạo nhớ người đâm, xay, giần, sàng.
+ Biết ơn ông bà , cha mẹ :
“Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con đóng cả ba vai chèo”.
                                                                                        (Mẹ ốm - Trần Đăng Khoa )
  - Ca dao nói về công ơn cha mẹ:
-  Tu đâu cho bằng tu nhà
           Thờ cha kính mẹ hơn là đi tu.
     - Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
- Ngày nào em bé cỏn con
                                              Bây giờ em đã lớn khôn thế này.
Vận dụng ca dao để nhắc học sinh cách rèn luyện kĩ năng thể hiện lòng biết ơn:
                                           - Cơm cha áo mẹ chữ thầy
Gắng công mà học có ngày thành danh.
- Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy.
  Một số câu nói về lòng biết ơn thầy dạy cũng vận dụng được trong bài “Tôn sư trọng đạo” ở lớp 7.
    Giáo viên phê phán thái độ vô ơn, phản bội, bạc tình, bạc nghĩa, phản bội thật đáng  chê trách, cảm thấy hổ thẹn cho những ai có hành động: “ Qua cầu rút ván” (thành ngữ).Từ đó rút ra biểu hiện của lòng biết ơn, ý nghĩa và cách rèn luyện.
   Kết luận: Biết ơn thể hiện tình cảm lời nói, thái độ, hành động cụ thể đối với tổ quốc, gia đình, ông bà, cha mẹ, những người đã giúp đỡ mình. Biết ơn không phải là món nợ “có vay, có trả” mà là nghĩa cử cao đẹp. Biết ơn là đạo lí của dân tộc ta, là chuẩn mực đạo đức, học sinh cần học hỏi và rèn luyện .
    Trong chủ đề quan hệ với người khác ở lớp 7, tiết 10 bài 7: Đoàn kết tương trợ.
    Để học sinh hiểu được thế nào là đoàn kết tương trợ, giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm : Em hãy nêu những câu ca dao tục ngữ,câu thơ về đoàn kết tương trợ. Các nhóm thảo luận hoặc ghi vào bảng phụ .
    Giáo viên lựa chọn, sắp xếp, bổ sung và đưa ra câu phù hợp để rút ra từng ý của khái niệm :
                                              “Áo  anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
                        Miệng cười buốt giá , chân không giày
                Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
                                                                                      ( Đồng Chí – Chính Hữu )
   Đoạn thơ này thể hiện sự đoàn kết, cảm thông, chia sẻ, thương yêu nhau đó là việc làm cụ thể của những  người lính trong chiến tranh. Rút ra ý 1 trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ :
                                    -   “Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hoàn núi cao”.
                                                                 (Ca dao)
                                   -   “Hòn đá to , hòn đá nặng
                                    Một người nhấc, nhấc không lên
                                        Hòn đá nặng hòn đá bền
                                    Nhiều người nhấc, nhấc lên đặng”.
                                                                                        ( Hòn Đá – Hồ Chí Minh )
     Ý hai câu này thể hiện rằng giữa con người luôn có các mối quan hệ với nhau trong học tập, lao động, vui chơi giải trí . Đoàn kết, tương trợ là sự liên kết, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, tạo nên sức mạnh lớn hơn để hoàn thành nhiệm vụ chung, từ đó làm nên sự nghiệp lớn của cộng đồng, của dân tộc. Rút ra ý 2
  + Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết  (thành ngữ).
   Đoàn kết không có nghĩa là kết bè, kéo cánh, a dua, bao che cho cái xấu, làm ngược lại lợi ích chung. Rút ra ý 3.
   Qua vận dụng chung học sinh học sinh vừa ghi nhớ khái niệm “Đoàn kết, tương trợ” mà còn nhớ được những câu thơ ca, tục ngữ mà tôi đã vận dụng .
  Bài lớp 7 tiết 11 bài 8 : Khoan dung .
 Để học sinh hiểu ý nghĩa lòng khoan dung ngay từ khi còn là học sinh tôi đã yêu thích tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi. Giọng văn hùng hồn, sang sảng mà đi sâu vào lòng người. Nhiều câu thơ có triết lý sống sâu sắc, ví dụ như :
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo” .
                                                                       (Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi)
  Thời nào cũng vậy, quốc gia nào cũng vậy, lấy cái nhân, cái nghĩa mà trị quốc thì thời ấy, quốc gia ấy yên lành, hòa bình. Đây là điều kiện tốt để xây dựng đất nước thịnh trị. Đẩy lùi cái hung tàn, bạo ngược, làm cho cuộc sống xã hội, mối quan hệ của người với người lành mạnh, thân ái.Tôi rút ra ý nghĩa của lòng khoan dung đối với xã hội .
   Con người cần có lòng vị tha, không chấp nhặt những lỗi nhỏ của nhau, luôn thông cảm, biết tôn trọng , tha thứ cho nhau. Nhờ đó mọi người càng yêu mến, tin cậy nhau hơn, có nhiều bạn tốt hơn, nên ông cha ta đã dạy: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại”. Rút ra ý nghĩa đối với cá nhân
   Kết luận :Khoan dung là đức tính quí báu của con người, là bản sắc của dân tộc việc nam .
 *Trong chủ đề quan hệ với bản thân ở lớp 7 , tiết 1 bài 1: Sống giản dị
   Sau khi hình thành khái niệm giản dị qua mẫu chuyện sgk, tôi đưa thêm những câu thơ của Tố Hữu :                         Bác ơi  
Nhà gác đơn sơ một góc vườn
Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn
Gường mây chiếu cói đơn chăn gối
Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn.
  Học sinh chú ý những danh từ, tính từ gạch chân để nêu những biểu hiện của tính giản dị : Không xa hoa lãng phí, không cầu kì, kiểu cách. Học sinh phân biệt được cái đẹp thực chất với sự phô trương bề ngoài qua câu tục ngữ:                                                                                              “ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”.  
  Giáo  viên nói thêm để học sinh hiểu rõ hơn về Bác Hồ : Bác đã cống hiến trọn đời mình cho dân, cho nước, Bác hội tụ cả tài năng, trí tuệ, đạo đức, văn hóa, nhiều lĩnh vực khác, năm 1987 Bác được UNESCO công nhận là nhà văn hóa kiệt xuất, tôn vinh là người anh hùng giải phóng dân tộc.  
 2.3. Sử dụng thơ ca, tục ngữ trong việc  củng cố bài học :
  - Tiết 6 bài 5: Tôn trọng kỉ luật (lớp 6).
    Nhằm chốt lại nội dung bài học, nhất mạnh tầm quan trọng của tính kỉ luật:  Tôn trọng kỉ luật rất quan trọng đối với mọi người, bất kể là học sinh, người công dân, cán bộ, cơ quan, nhà máy, làng xóm đều có quy định, qui ước của mình. Nhờ có qui định, kỉ luật mà cá nhân cảm thấy thanh thản, sáng tạo trong công việc; gia đình và xã hội mới có nề nếp kỉ cương, duy trì và phát triển. Bởi thế tục ngữ có câu:
                                                   - Đất có lề, quê có thói .
                                                   - Nước có vua, chùa có bụt .
                                                   - Giấy rách phải gữi lấy lề .
2.4.Hướng dẫn học sinh sưu tầm thơ , ca dao, tục ngữ ở nhà :
Trong mỗi chuẩn mực đạo đức giáo viên có thể yêu cầu các em sưu tầm tục ngữ, ca dao, thơ ca sau khi học xong bài học để khắc sâu kiến thức.  Ngoài ra có thể cho các em sưu tầm trước khi học bài mường tượng về đức tính đó như thế nào, thể hiện ra sao, là bước gợi ý để có ý niệm ban đầu về đức tính sắp học .
  Ví dụ1 : Tìm những câu thơ, ca dao, tục ngữ thể hiện sự tiết kiệm sử dụng đúng mức của cải vật chất, thời gian, sức lực …. Học sinh có thể sưu tầm những câu sau:
- Miệng ăn núi lở  (thành ngữ )
- Vung tay quá trán (thành ngữ)
                                       - Tiết kiệm sẵn có đồng tiền
      Phòng khi túng lỡ không phiền lụy ai.
- Bóc ngắn cắn dài. (thành ngữ )
- Tích tiểu thành đại (thành ngữ )
  • Đến lớp giáo viên phân loại ra ý từng câu để khai thác khái niệm, biểu hiện, ý nghĩa của đức tính tiết kiệm
  • Ví dụ 2 : Tìm những câu thơ, ca dao, tục ngữ về lòng trung thực (bài 2 tiết 2 lớp 7 – Chủ đề quan hệ với bản thân). Học sinh sẽ tìm có thể là :
                                           - Cây ngay không sợ chết đứng.
                                                                                         (thành ngữ)
                                          - Ta thà làm quỷ nước nam
                                             Còn hơn làm Vương đất Bắc.
                                                                                     (Trần Bình Trọng)
   Giáo viên phân tích các câu để rút ra ý nghĩa giáo dục .
  Ví dụ 3 : Tìm những câu thơ, ca dao, tục ngữ  nói về lòng yêu thương con người  ( bài 5 – lớp 7) học sinh sẽ tìm thông thường là những câu sau :
+ Tình cảm con người :
                                - Chia ngọt sẻ bùi (thành ngữ )
                                -  Thương người như thể thương thân .
                                                                                             (tục ngữ )
                                -  Bầu ơi thương lấy bí cùng
                                   Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
                                                                                                   (ca dao)
                              - “Thương  nhau chia củ sắn lùi
                                  Bát cơm xẻ nửa chăn sui đắp cùng”.
                                                                                           (Việt Bắc - Tố Hữu)
                              - Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ .
                                                                                           (tục ngữ )
  + Tình cảm gia đình  :
                                       -  Chị ngã em nâng .
                                       -  Anh em như thể tay chân
                                          Rách lành đùm bọc dỡ hay đỡ đần
                                       -  Lên non thiếp cũng theo
                                      Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau
    Giáo viên dựa vào nội dung đã sưu tầm, sắp xếp lại, phân tích, biểu hiện, ý nghĩa để rút ra nội dung bài học mới .
     Kết luận :  Đất nước đã và đang đi vào đổi mới, hệ thống giáo dục cũng đã hoàn thành đổi mới. Môn GDCD cũng ra sức đổi mới để hoàn thiện hơn, có kết quả hơn trong các giờ dạy và học, làm thế nào có thể hình thành cho học sinh một nhân cách tốt đẹp.Một tâm hồn trong sáng, một trái tim chứa đầy yêu thương và độ lượng, biết yêu quý tổ quốc của mình và coi trọng “Sống và làm việc theo pháp luật” 
  3.Nội dung vận dung ca dao, tục ngữ, thơ qua các bài dạy GDCD lớp 6,7:
    Khi dạy bài “Yêu thương con người” lớp 7, để học sinh rút ra “khái niệm” ngắn gọn và dễ hiểu sâu sắc. Tôi không thể quên câu thơ của Tố Hữu khi nói đến điều tốt đẹp nhất là con người sống phải yêu thương đồng loại của mình. Tiết 6 bài 5:
“Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người với người sống để yêu nhau”.
                                                                                       (Tố Hữu)
  Điều đó càng giúp học sinh hiểu được sự cần thiết phải yêu thương nhau, bởi vì không ai có thể sống thiếu tình yêu thương . Từ khi con người sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, con người luôn sống gần gũi, giúp đỡ, hợp tác với nhau.Tình yêu thương là lẽ sống, là sức mạnh giúp con người vượt qua khó khăn, hãy nghe câu tục ngữ rất gọn gồm bốn chữ mà bao hàm ý  nghĩa súc tích.
                                     Chia ngọt sẻ bùi .
                                                                   (Tục ngữ)
  Qua đó học sinh sẽ khắc sâu hơn ý nghĩa của “Yêu thương con người”nếu trong xã hội mọi người yêu thương nhau ta sẽ có một xã hội văn minh, hạnh phúc. Không thù hận, không có chiến tranh mọi quyền lợi của con người được đảm bảo, để học sinh hiểu rõ thêm nhân đạo yêu thương là truyền thống cuả dân tộc ta và luôn được đề cao.

                             Thương người như thể thương thân.

                                                                                      (Tục ngữ )

  Ca dao tục ngữ, thơ ca là thể hiện đức tính quý báu của con người Việt Nam khi dạy bài “Siêng năng, kiên trì” lớp 6. Để nêu bật ý nghĩa của siêng năng kiên trì trước hết tôi đưa ra câu tục ngữ:
                           Siêng làm thì có, siêng học thì hay.   (Tục ngữ)
  Qua đó học sinh giải thích được, con người muốn sống phải siêng năng kiên trì. Kết quả lao động có tốt hay không thì phụ thuộc vào chỗ người đó có siêng năng, kiên trì hay không ? Khi đã suy nghĩ và giải thích được câu tục ngữ đó học sinh sẽ hiểu được “Siêng năng, kiên trì” sẽ giúp con người thành công trong công việc, trong cuộc sống để học sinh ghi nhớ dễ dàng.

                            “Có công mài sắt có ngày nên kim”.

                                                                                    (Tục ngữ)
  Trên cơ sở đó học sinh rút ra được bài học cho bản thân, muốn có một cuộc sống ấm no hạnh phúc không còn con đường nào khác là phải chăm chỉ học hành và kiên trì rèn luyện.Ca dao, tục ngữ, thơ ca Việt Nam có sức sống mãnh liệt chính nội lực của nó. Chính vì vậy khi dạy môn GDCD người giáo viên phải nắm bắt được sức sống mãnh liệt đó để làm nổi bật ý nghĩa bài học. Để giúp học sinh hiểu được các đức tính đó gần gũi biết bao nhiêu. Bài “Lễ độ” lớp 6, để học sinh hiểu rõ “Khái niệm” sau khi học sinh thảo luận nhóm và rút ra khái niệm Lễ độ là gì? Để cũng cố kiến thức sâu sắc để làm cho học sinh nhớ lâu tôi vận dụng câu tục ngữ.

                               “ Tiên học lễ, hậu học văn”.

                                                                     (Tục ngữ)
  Và cho học sinh giải thích cho học sinh sẽ hiểu rõ : Con người cũng phải học những bài học làm người, đó là học đạo đức lễ nghĩa sau đó mới học văn hoá.Những “Lễ nghĩa, phép tắc” đó là “Lễ phép, lễ độ” để học sinh sẽ khắc sâu trong tâm trí bản thân:

                                     “Lời nói chẳng mất tiền mua

                                     Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
                                                                                       (Ca dao)
  Những “Lời nói chẳng mất tiền mua” ấy nếu con người biết lựa chọn chắt lọc như ca dao, tục ngữ khẳng định, thì sẽ đẹp thêm quan hệ giữa người và người. Làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp văn minh hơn. Ca dao, tục ngữ, thơ ca đã thực sự đi vào lòng người, ngay từ khi cắp sách đền trường tôi đã nghe lời bình giảng của thầy giáo dạy văn, làm cho tôi không thể nào quên.Đến bài “Khoan dung” lớp 7 tôi không quên lấy hai câu thơ của Nguyễn Trãi để minh hoạ cho bài học:

                                   “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

                                    Lấy chí nhân để thay cường bạo”.
                                                                                 (Nguyễn Trãi)
  Qua đó học sinh cũng nhận được ý nghĩa quan trọng của bài học- Khoan dung là đức tính quý báu của con con người, là truyền thống của dân tộc. Để nêu bật hơn về lòng khoan dung về lòng vị tha của con người, để cuộc sống con người không chấp nhặt những lỗi nhỏ của nhau, luôn thông cảm, tôn trọng và biết tha thứ cho nhau thì câu tục ngữ “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh kẻ chạy lại” đã giúp tôi khẳng định điều đó.
   Một trong những truyền thống quý báu của dân tộc là lòng biết ơn.Thì ca dao, tục ngữ, thơ ca đã nêu rõ điều đó cho chúng ta.

                                            Uống nước nhớ nguồn

                                          Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

                                                                       (Tục ngữ)

  Vận dụng những câu tục ngữ đó để học sinh dễ hiểu lòng biết ơn là biểu hiện sự trân trọng quá khứ. Những nét đẹp trong truyền thống gia đình, tổ tiên, làng xóm, dân tộc. Nhớ ơn những người đã ngã xuống hoặc hiến một phần xương máu vì độc lập tự do của tổ quốc, nhớ ơn cha mẹ những người đã sinh thành nuôi dưỡng và biết ơn những người đã giúp đỡ mình, và học sinh hiểu đầy đủ hơn “Biết ơn” không phải là một món nợ “Có vay, có trả” mà ý thức được người khác giúp ta nhiều lúc ta không trả ơn được. Ta lại giúp người khác và sống tốt đẹp hơn đó là quy luật của cuộc sống .Đến phần tìm ra những biện pháp rèn luyện “Biết ơn” mà sách giáo khoa chưa nêu rõ, với bài thơ “Mẹ ốm” đã khắc hoạ cho các em hiểu rõ, các em cần có thái độ, cử chỉ làm vui lòng cha mẹ, thầy cô như Trần Đăng khoa đã thể hiện:   
                                       “Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện rồi thi múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà.
 Một mình con đóng cả ba vai chèo”.    
                                                                  (Trần Đăng Khoa)
  Thật là kì diệu nếu chúng ta biết khai thác sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca để áp dụng vào các bài dạy. Giờ học sẽ trở nên sôi nổi, hưng phấn hơn. Giáo viên đưa ra cho học sinh thảo luận sau đó trình bày tự do ý kiến của mình về các câu ca dao tục ngữ, thơ ca để làm sáng tỏ nội dung bài học. Đó những điểm mới trong đổi mới phương pháp dạy học.
  Trong bài “Tôn sư trọng đạo” lớp 7 tiết 10 bài 7. Ca dao, tục ngữ rất phong phú khi đưa vào giảng dạy, để nêu bật ý nghĩa quan trọng của“Tôn sư trọng đạo” tôi đưa câu tục ngữ:                                    
                            - Không thầy đố mày làm nên .                    

                            -  Nhất tự vi sư, bán tự vi sư.

 
    Học sinh sẽ giải thích được không ai có thể trở thành tài giỏi mà không có sự dạy dỗ của các thầy cô giáo. Trong xã hội thầy, cô giáo thực sự là những người đáng kính, phải biết ơn.Khi dạy bài “Đoàn kết tương trợ” ở lớp 7, trước khi vào khái niệm “Thế nào là đoàn kết tương trợ” ? tôi cho học sinh tìm hiểu phương pháp thảo luận nhóm.Em hãy nêu ca dao, tục ngữ, thơ về đoàn kết tương trợ ? Tất cả các nhóm thảo luận và đua ra câu phù hợp:
Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chum lại nên hòn núi cao.
                                                              (Ca dao)
  Qua đó học sinh rút ra được bài học:  “Đoàn kết tương trợ là sự thông cảm chia sẽ giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn”. Ý nghĩa của đoàn kết tương trợ cũng là nội dung
bài học quan trọng. Vận dụng bài thơ :  “Hòn đá” của Hồ Chí Minh:
                                       “Hòn đá to , hòn đá nặng
                                    Một người nhấc, nhấc không lên
                                        Hòn đá nặng hòn đá bền
                                    Nhiều người nhấc, nhấc lên đặng”.
                                                                                        ( Hòn Đá – Hồ Chí Minh )
   Học sinh sẽ say mê khi nghiên cứu tìm tòi qua ca dao tục ngữ, thơ và qua bài “Hòn đá” sẽ nêu lên được “Đoàn kết tương trợ là sự thông cảm chia sẽ giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn”. Qua ca dao, tục ngữ, thơ đã giúp chúng ta hiểu rõ siêng năng là sự cần cù, tự giác, miệt mài, nhưng nếu ta cần mẫn siêng năng mà không biết tiết kiệm,sử dụng hợp lý thành quả lao động cũng vô ích. Để thấy được mặt trái của tính tiết kiệm tôi cho học sinh tìm các câu ca dao, tục ngữ trái với tiết kiệm:

                                         -  Miệng ăn, núi lỡ

                                        -    Vung tay quá trán

                                        -   Bóc ngắn cắn dài

                                                                              (Tục ngữ)
  Qua đó học sinh sẽ thấy được trái với tiết kiệm là hoang phí, nếu như ta tiêu phí của cải, thời gian, sức lực quá mức cần thiết thì đến một lúc nào đó ta sẽ không còn gì cả, cuộc sống sẽ trở nên khó khăn, khốn khổ bởi vì không tiết kiệm và ý thức phải biết tiết kiệm sẽ mãi mãi hằn sâu vào trí thức của các em qua câu ca dao:
Tiết kiệm sẵn có đồng tiền
Phòng khi túng lỡ không phiền lụy ai.
 Thật là phong phú và thú vị vô cùng nếu như những ai biết vận dụng những câu ca dao, tục ngữ xa xưa của ông cha ta làm sáng tỏ nội dung bài hoc. Những câu ca dao, tục ngữ  đã được ông cha ta chắt lọc và trưởng thành qua thực tế, để cho đến bây giờ. Một thời đại mới đã mở ra quá hiện đại với công nghệ thông tin...Nhưng những cái giản dị, chân chất, mộc mạc ấy vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ và mai sau. Để cho học sinh hiểu rõ đó cũng là một trong những bản sắc văn hoá của dân tộc. Một trong những bản sắc văn hoá của dân tộc đó là lối sống “Giản dị” lớp 7 của con người việt nam được ca dao tục ngữ đem lại cho chúng ta vô số những ví dụ dẫn chứng lý thú, chính xác. Bởi ngôn ngữ trong ca dao, tục ngữ, thơ trong sáng tinh tuý đã được mài giũa qua thời gian. Hơn thế nữa ca dao, tục ngữ, thơ vừa có sức gần gũi vùa có sức thuyết phục kỳ diệu đối với học sinh. Đến với bài dạy “Giản dị”lớp 7, để hình thành khái niệm  “Giản dị” qua mẫu chuyện sách giáo khoa nêu lên đức tính giản dị của Bác Hồ để làm sống lại và toả sáng hơn dức tính đó của Bác Hồ kính yêu, tôi đã minh hoạ thêm các câu thơ của Tố hữu:
Nhà gác đơn sơ một góc vườn
Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn
Giường mây chiếu cói đơn chăn gối
Tủ nhỏ vừa treo mấy áo sờn
  Qua hình ảnh của Bác các em sẽ hình thành được người sống giản dị “không sống xa hoa, lãng phí, không cầu kỳ kiểu cách” các em học sinh sẽ phân biệt được cái đẹp thực chất với sự phô trương bề ngoài bằng các câu tục ngữ.
                                      Tốt gỗ hơn tốt nước sơn. (Tục ngữ)
   Giảng dạy môn GDCD nếu như người giáo viên không sáng kiến tìm tòi các ví dụ các câu thơ, ca dao, tục ngữ thì giờ học sẽ không gây hưng phấn cho học sinh. Bởi có nhiều người quan niệm môn học quá khô khan cứng nhắc. Nhưng đối với người dạy sẽ cảm nhận môn học quan trọng biết bao nhiêu bởi nhân cách học sinh tốt hay xấu cũng phụ thuộc một phần  quan trọng ở kết quả giáo dục của môn GDCD. Để khi bước vào đời làm con người của xã hội, của tổ quốc, sẵn sàng làm tất cả những gì cho đất nước thân yêu, những  người công dân tương lai này hành trang trên vai là những tri thức khoa học, là những phảm chất “Lễ độ” “Biết ơn”, “Yêu thương con người”, “Khoan dung”, “Tiết kiệm”....... không thể thiếu được trong tâm hồn của mỗi người, để sau này các em những người “Sống chan hoà với mọi người” và “Biết tôn trọng Kỉ luật” trong bất cứ lĩnh vực nào. Học sinh không chỉ trao dồi tri thức mà còn rèn luyện phẩm chất đạo đức theo chuẩn mực chung của xã hội. Sau này lớn lên, có đủ tài, đủ đức để cống hiến cho đất nước, cho nhân dân.   Tiết 6 bài 5 lớp 6. Có thể đức tính “Tôn trọng Kỉ luật ”  là rất quan trọng đối với mỗi con người khi đang còn là học sinh hay làm ở các cơ quan, nhà máy.... thì việc tôn trọng kỷ luật cũng rất cần thiết. Để  nhấn mạnh thêm về điều quan trọng, khi dạy bài “Tôn trọng kỉ luật” lớp 6 trước khi kết thúc bài học, để giúp học sinh nhớ mãi và lâu hơn đức tính này tôi đã dùng câu tục ngữ:

-Đất có lề, quê có thói.

-Nước có Vua, chùa có bụt.

Và học sinh hiểu nhiều hơn, bất cứ lĩnh vực nào? Ở đâu, lúc nàocũng có luật lệ phép tắc mà mọi người tuân theo.
 * Kết luận : Ca dao, tục ngữ, thơ ca Việt Nam như những phép màu, có thể sử dụng bất kỳ trong lĩnh vực nào của khoa học, xã hội. Đó là sức sống mãnh liệt trong từng câu, từng chữ, trong bài giảng dạy môn GDCD ca dao, tục ngữ, thơ  ca làm phong phú hấp dẫn hơn qua mỗi bài học. Giờ học GDCD không còn như trước đây “Tẻ nhạt, nhàm chán” mà bài học giờ đây để lại ấn tượng sâu sắc và học sinh cũng sẽ cảm nhận được môn GDCD cũng đầy hấp dẫn và lý thú. Đó cũng là nhờ sự vận dụng tài tình của giáo viên qua ca dao, tục ngữ, thơ ca, đó là một công cụ hữu ích, đồng thời một phương pháp sắc bén để bài dạy sống động, cô đọng, hàm súc trong trí nhớ của học sinh.
  III.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
  Qua sử dụng ca dao tục ngữ và kết hợp với những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.Tôi thấy rằng học sinh dễ hiểu hơn hứng thú say sưa học hỏi hơn, bài học sinh động dễ hiểu hơn. Kết quả so với trứớc học sinh nắm, hiểu bài cao hơn 92% học sinh tiếp thu tốt.
  Qua nhiều năm giảng dạy môn GDCD ở trung học cơ sở bằng sự nỗ lực học hỏi, bằng nhận thức của bản thân. Tiếp thu tinh thần đổi mới phương pháp dạy học kết hợp qua các giờ dạy của bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi thành công trong nhiều bài dạy.
- Kết quả chất lượng giảng dạy môn Giáo Dục Công  Dân khối 6 năm học
   2011 -2012  đạt:
                       
Khối lớp 6 Tổng số học sinh Giỏi Khá TB Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
6A1 39 27 69,2 11 28,2 1 2,6 0   0  
6A2  
39
 20 51,2 10  25,6    9 23,2 0   0  
6A3  
39
 15 38,4 13 33,3 11  28,3 0   0  
Cộng 117 62 53 34 29 21  18 0   0  
 
 IV.KẾT LUẬN,KIẾN NGHỊ
1.Kết luận
     Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ vào trong giảng dạy môn GDCD là một biện pháp rất cần thiết. Giúp đỡ cho học sinh không nhàm chán môn học nhưng đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào lương tâm, tình cảm của người giảng. Phụ thuộc cách kết hợp các phương pháp với ca dao, tục ngữ, thơ trong từng phần từng bài giảng.  Trên đây chỉ là một ý kiến nhỏ của cá nhân tôi, chắc chắn sẽ có nhiều điều khiếm khuyết. Vì vậy tôi rất mong sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng bộ môn để chất lượng học tập môn giáo dục công dân ngày càng cao hơn, có hiệu quả hơn.
 2. Kiến nghị:
     Mọi hoạt động vật chất lẫn tinh thần của con người luôn hướng đến mục tiêu mang lại hiệu quả cao nhất. Việc dạy môn GDCD cũng thế. Tuy nhiên việc tìm ra phương pháp dạy học hay tạo sự hứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập là điều quan trọng. Vì vậy tôi có một số kiến nghị sau:
- Đề nghị phòng giáo dục cung cấp thêm sách bài tập GDCD lớp 6, 7 8 các loại sách pháp lật và  sách tham khảo cho GV và học sinh về bộ môn GDCD.
-  Mua thêm một số đồ dạy học như tranh ảnh, tư liệu, truyện về tấm gương người tốt việc tốt” của quê hương đất nước để tiết học sinh động hơn, giờ học đạt hiệu quả cao. Các văn bản bộ luật liên quan đến GDCD.
- Về phía nhà trường: Quan tâm đặc biệt đến môn học này đó là hỗ trợ kinh phí để có một phần thiết bị đồ dùng dạy học phù hợp với bộ môn,
- Giáo viên có sự chuẩn bị đồ vật, tranh ảnh có liên quan đến nội dung bài học.
                                     
 
 
Xác nhận của nhà trường
Kim Xá, ngày 20 tháng 10 năm 2012
                      Người Viết
 
                                                                                               
Nguyễn Trọng Chi
 
                                      
 
 

MỤC LỤC
 
                                      Chương - phần. Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 2
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5. Phương pháp nghiên cứu 2
6. Nội dung đề tài 3
II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 2
Chương I: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu 3
1. Cơ sở pháp lý 3
2. Cơ sở lý luận 3
3. Cơ sở thực tiễn 3
Chương II: Thực trạng của đề tài nghiên cứu 3
1. Khái quát phạm  vi 4
2. Thực trạng của đề tài nghiên cứu 4
3. Nguyên nhân 4
Chương III: Biện pháp chủ yếu để thực hiện đề tài 4
1. Cơ sở đề xuất các giải pháp 4
2. Các giải pháp chủ yếu 4
2.1. Sử dụng thơ ca để giới thiệu bài 5
2.2. Sử dụng thơ ca, tục ngữ trong hoạt động khai thác kiến thức mới 6
2.3. Sử dụng thơ ca, tục ngữ trong việc  củng cố bài học 8
2.4.Hướng dẫn học sinh sưu tầm thơ , ca dao, tục ngữ ở nhà 9
3. Nội dung vận dung ca dao, tục ngữ, thơ qua các bài dạy GDCD lớp 6,7 10 -15
III. KẾT LUẬN NGHIÊN CỨU 16
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16
1. Kết luận 16
2. Kiến nghị 17
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
 
 
 
                     
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
1. Sách Giáo khoa -  Giáo viên GDCD 6,7,8,9.
2. Thiết kế bài giảng GDCD 6,7,8,9.
3. Giáo dục Pháp luật trong nhà trường.
4. Sổ tay kiến thức Pháp luật (NXB Giáo dục)
5. Sách chuẩn kiến thức, kỷ năng môn GDCD.
6. Sách rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh .
7. Sách ca dao việt nam của NXB Trẻ.
8. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD trung học cơ sở.
9. Bài tập tình huống GDCD 6,7,8,9.
 
¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ™ & ˜ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯ ¯
 
 
 
 
 
 
 
 
                                               
                                    
 

Tác giả bài viết: Dương Tiến

Nguồn tin: BGH trường THCS Kim Xá

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Ứng dụng CNTT trong lĩnh vực giảng dạy.

                              NỘI DUNG THỰC HIỆN -Trang bị đầy đủ máy vi tinh cho các bộ phận làm việc; ít nhất 23  máy cho phòng thực hành...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn thấy chất lượng trường THCS Kim Xá hiện nay NTN?

Đang đi lên.

Đang đi xuống.

Vậy là được rồi.

Tất cả các ý kiến trên